Trần Hưng Đạo là anh hùng lịch sử và nhà văn hóa nổi tiếng của Việt Nam, 3 đánh bại quân Nguyên. Bài Hịch tướng sĩ của ông trở thành tác phẩm kinh điển trong văn học. Sau khi qua đời, ông được vua truy phong danh hiệu “Hưng Đạo đại vương” và được nhân dân trên khắp đất nước dựng đền thờ.
I. Lược sử về Trần Hưng Đạo
Trần Hưng Đạo là một trong những nhà chiến lược quân sự vĩ đại của Việt Nam. Các chiến thuật trong quân sự của ngài đã làm gương lối đánh du kích của quân dân ta trong thế kỷ 20. Hịch tướng sĩ của ông đã trở thành tác phẩm văn học kinh điển cho đến tận ngày nay.
Ngày sinh của Trần Quốc Tuấn không được ghi rõ trong sử sách. Có tài liệu cho rằng ông sinh năm 1228, trong khi có nơi khác ghi là năm 1232, nhưng điều đó có nghĩa là ông chào đời sau khi nhà Trần cướp ngôi của nhà Lý không lâu trước đó. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi mới sinh, một thầy tướng đã nói rằng ông sẽ có vai trò quan trọng trong việc cứu đất nước. Khi lớn lên, ông được tả là một người có dung mạo xuất sắc, thông minh vượt trội, văn võ song toàn.
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, do vua Trần Thái Tông chưa có con sau 10 năm kết hôn nên bị ép lấy công chúa Thuận Thiên, là vợ của Trần Liễu khi bà mang thai 3 tháng đứa con đầu lòng. Trần Liễu mang nỗi oan thù và định làm phản. Trần Thủ Độ toan giết, nhưng vua Thái Tông đã che chắn và xin tha tội cho anh trai. Khi sắp bị mất, An Sinh cầm tay Quốc Tuấn và dặn dò: “Con không vì cha lấy được thiên hạ thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được”. Quốc Tuấn ghi nhớ lời cha nhưng không cho là đúng. Khi có quyền lực trong tay, ông chia sẻ lời dặn của cha với Dã Tượng và Yết Kiêu nhưng họ lên tiếng: “Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm. Nay Đại vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chết làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu…”. Trần Quốc Tuấn rất phục và khen ngợi hai người.
Một ngày, ông Trần Quốc Tuấn hỏi Hưng Vũ Vương con trai trưởng của mình: “Người ta xưa có cả thiên hạ để truyền lại cho con cháu, con nghĩ thế nào?”. Hưng Vũ Vương trả lời: “Dù khác họ, nhưng cũng không nên, chưa kể đến việc cùng một họ.” Trần Quốc Tuấn cho là phải.
Trong một dịp khác, ông hỏi người con thứ hai là Hưng Nhượng Vương Quốc Tảng về quan điểm của mình. Trần Quốc Tảng trình bày: “Tống Thái Tổ, người làm ruộng, nhờ cơ hội đã đưa mình lên và chiếm được thiên hạ.” Trần Quốc Tuấn tức giận toán rút gươm chém: “Kẻ phản loạn là từ đứa con bất hiếu mà ra.” nhưng Hưng Vũ Vương khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha cho Quốc Tảng và dặn dò: “Sau khi ta mất, hãy đậy nắp quan tài trước rồi mới để Quốc Tảng vào viếng.”
Ông được vua Trần đã phong tặng danh hiệu “Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương” . Về già ông lâm bệnh và qua đời ở tuổi 73. Thi hài của ông được hỏa táng và tro của ông được rải dưới gốc cây sồi yêu thích mà ông đã trồng trong khu đất hoàng gia gần Thăng Long theo di chúc của mình. Người Việt có ý định chôn cất ông trong một lăng mộ hoàng gia xa hoa và tổ chức nghi lễ linh đình sau khi ông qua đời, nhưng ông từ chối và chỉ làm nghi lễ riêng tư đơn giản.
Ông được nhân dân Việt Nam tôn sùng như một vị anh hùng dân tộc và được tôn làm Cửu Thiên Vũ Đế hay Đức Thánh Trần để ghi nhớ công ơn. Hầu hết các thành phố lớn ở Việt Nam đều có những con đường mang tên ông và tượng ông được dựng tại nhiều đền thờ trên khắp Việt Nam.
II. 3 lần đánh thắng quân Nguyên – Mông
Đến những năm 1250, Đế quốc Mông Cổ đã kiểm soát những vùng đất rộng lớn ở cả châu Á lẫn châu Âu. Mông Kha chuẩn bị tấn công nhà Tống ở Trung Quốc từ ba hướng, Ngột Lương Hợp Thai đã tiến hành các cuộc chiến ở tây nam Trung Quốc và bình định các bộ lạc ở Tây Tạng trước khi quay về tấn công Đại Việt vào năm 1257.
1. Lần thứ nhất (1258)
Sau khi chiếm Đại Lý, đội quân của Ngột Lương Hợp Thai đã đóng quân tại A Mễ, phía Bắc của Đại Việt. Ông sai hai sứ giả đến Đại Việt dụ đầu hàng, hằng năm phải triều cống, nộp sổ đinh, sổ điền. Tuy nhiên, nhà Trần bắt giữ hai sứ giả, sau đó trói chúng bằng dây tre, xuống chiếu ra lệnh đem quân thủy bộ ra ngăn giữ biên giới, theo sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo và truyền cả nước sắm sửa vũ khí.
Ngày 17 tháng 1 năm 1258, đích thân vua Trần ngự giá chỉ huy. Trong trận chiến này, Đại Việt dùng voi để chiến đấu với quân Mông Cổ. Con trai của Ngột Lương Hợp Thai là A Truật ra lệnh bắn những mũi tên lửa vào trước bàn chân và mắt của voi, kế này đã khiến bầy voi hoảng sợ, quay lại giày xéo quân nhà Trần. Trần Thái Tông chủ động lui quân, Triệt Triệt Đô tự tử vì để vua Đại Việt chạy thoát.
Ngày 18 tháng 1 năm 1258, 2 bên gặp nhau ở cầu Phù Lỗ nhưng vua Trần đã chặt cầu từ trước. Muốn vượt sông mà không có thuyền, quân Mông Cổ đã bắn tên xuống nước, tên mà không nổi lên là nơi nước đã cạn, sau đó sử dụng kị binh để vượt sông. Quân Trần lần nữa bất lợi và quyết định rút lui khỏi Thăng Long.
Sau khi chiếm được Thăng Long, Ngột Lương Hợp Thai thấy sử giả của mình bị nhốt trong ngục, bị dây tre trói lằn vào da thịt, lúc cởi trói ra, một sứ giả đã chết, hắn tức giận giết người dân trong kinh thành.
Nửa đêm ngày 28 tháng 1 năm 1258, Trần Thái Tông và Thái tử Trần Hoảng phản công bất ngờ. Quân Mông Cổ đánh giá thấp lực lượng của quân Trần nên thất bại nặng nề và phải rút lui về Vân Nam. Tuy thua trận phải rút lui về, vua Mông Cổ sai sứ bắt nước Nam phải triều cống. Vua Thái Tông sai Lê Phụ Trần sang sứ, xin 3 năm sang cống một lần, theo sử Nguyên “tuy rằng ba năm tới cống một lần, nhưng các đồ cống đều không dùng được”.
2. Lần thứ hai (1285)
Sau nhiều sự kiện khác, quan hệ giữa 2 nước ngày càng căng thẳng, nhà Trần nhiều lần từ chối các yêu cầu của nhà Nguyên, nên tất yếu sẽ có chiến tranh. Tháng 10 năm 1282, Trần Nhân Tông tổ chức cuộc họp với các vương hầu và tướng lĩnh tại Bình Than để bàn kế hoạch chống giặc. Năm 1283, Trần Hưng Đạo được bổ nhiệm làm Quốc Công Tiết Chế, đồng thời chịu trách nhiệm lãnh đạo toàn bộ quân binh.
Cuối năm 1284, tướng giặc Thoát Hoan đưa đại binh đánh chiếm Chi Lăng, Trần Quốc Tuấn phải rút quân về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tông đáp thuyền nhỏ đến Hải Dương, cho mời Trần Hưng Đạo đến bàn việc: “Thế giặc mạnh như vậy, ta chống không được, nên hòa hay đánh”. Trần Quốc Tuấn tâu: “Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu Xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng !!”
Trần Quốc Tuấn đã viết Hịch tướng sĩ để động viên tinh thần của quân sĩ, nhiều người đã xăm hai chữ Sát Thát vào tay để thể hiện quyết tâm chiến đấu. Bài hịch được dân ta tôn thành “Thiên cổ hùng văn”, còn lưu truyền đến tận ngày nay.
Với sức mạnh áp đảo của quân Nguyên, Trần Quốc Tuấn hiểu rằng tấn công trực diện sẽ đúng với ý đồ của giặc, hơn nữa quân giặc áp dụng đánh nhanh thắng nhanh, đòi hỏi nhu yếu phẩm cho quân sĩ phải nhiều. Do đó ông đã thay đổi chiến thuật, thực hiện kế hoạch “vườn không nhà trống” nhằm cắt đứt nguồn cung ứng lương thảo của quân Nguyên. Phu nhân của Trần Quốc Tuấn đóng góp công lớn trong việc tổ chức cuộc di tản cho người dân ở Thăng Long. Quân ta tránh đụng độ với giặc trong rất nhiều tháng, đợi đến khi địch suy yếu do thiếu lương thực và mất tinh thần thì tập trung lực lượng để phản công và đạt được chiến thắng quyết định.
Tháng 5 năm 1285, lợi dụng thời cơ, quân Trần tổ chức phản công, đánh bại quân giặc ở nhiều nơi như Tây Kết, cửa Hàm Tử, bến Chương Dương và tiến vào giải phóng Thăng Long. Quân Nguyên đại bại, Toa Đô bị chém đầu, Thoát Hoan chui vào ống đồng về nước, đất nước sạch bóng quân xâm lược.

3. Lần thứ ba (1987-1988)
Nắm được chìa khóa tiêu diệt địch, khi quân Nguyên đưa quân sang xâm lược Đại Việt lần thứ 3, Trần Hưng Đạo đã tự tin tâu với vua Trần: “Thế giặc năm nay dễ phá”.
Vua Trần Nhân Tông cử Hưng Đạo vương thống lĩnh vương hầu luyện tập binh sĩ, sửa sang khí giới, đóng thuyền chiến. Tháng 2 âm lịch năm 1287, nhà Nguyên điều động quân Mông Cổ chia làm nhiều cánh tràn vào Đại Việt. Các quan Đại Việt xin bắt tráng đinh sung quân để quân đội đông hơn, nhưng Hưng Đạo Vương không đồng ý.
Khi biết quân Trần đã phòng thủ ở Thanh – Nghệ, Thoát Hoan tiến thẳng vào từ phía bắc và đông bắc. Sau những cuộc đụng độ ở biên giới, binh sĩ Trần rút lui, nhưng khác với lần trước, Trần Hưng Đạo không bỏ Thăng Long mà tổ chức phòng thủ ngay tại kinh thành. Tháng 2 năm 1288, quân Nguyên tấn công thành, quân Đại Việt nấp trong thành bắn tên ra.
Quân ta ban đêm đánh lén vào trại quân Nguyên, đốt phá lương thực rồi rút lui. Trong khi đó, đoàn thuyền viện trợ lương thực của Trương Văn Hổ bị Trần Khánh Dư chặn đánh và tiêu diệt ở Vân Đồn. Do bị thiếu lương và bệnh dịch, Thoát Hoan buộc phải rút lui bằng đường thủy do Ô Mã Nhi chỉ huy. Trần Hưng Đạo bố trí lực lượng mai phục ở cửa sông Bạch Đằng, lợi dụng đặc điểm của thủy triều, cọc được đóng xuống lòng sông, dụ quân Mông Cổ mắc vào cọc sắt, trực tiếp tiêu diệt toàn bộ thủy quân của giặc và bắt sống Ô Mã Nhi. Thoát Hoan dẫn quân bộ tháo chạy theo đường Lạng Sơn, dọc đường bị quân ta mai phục tiêu diệt vài phần. Hốt Tất Liệt thất bại nặng nề và quân Mông Cổ không bao giờ xâm lược Đại Việt nữa.
Trần Hưng Đạo đã nói vào năm 1300 rằng: “Nếu ta đoàn kết quân đội như cha con, đối xử quảng đại với dân thì sẽ lập được đại nghiệp”

III. Vì sao nhân dân tôn Trần Hưng Đạo làm thánh?
Với những đóng góp lớn cho quê hương và nhân dân, sau khi Trần Hưng Đạo qua đời, người dân đã tôn vinh ông như một thánh và coi ông như một đấng quyền năng siêu việt, được gọi là “Đức Thánh Trần”. Từ đây, nhiều truyền thuyết và huyền thoại xoay quanh “Đức Thánh Trần” đã xuất hiện.
Một số truyền thuyết mô tả “Đức Thánh Trần” là con của Ngọc Hoàng Thượng đế, được đặt vào nhà của An Sinh Vương Trần Liễu từ khi mới đầu thai, với nhiệm vụ cứu nước và bảo vệ nhân dân. Cũng có truyền thuyết khác cho rằng Hưng Đạo Vương là con của vua cha Bát Hải, người cai trị vùng sông nước, đầu thai thành Trần Quốc Tuấn để giúp đỡ quê hương, giải cứu nhân dân khỏi nguy cơ xâm lược ngoại xâm, đồng thời chữa bệnh và trừ tà ma cho nhân dân.
Trong thời kỳ nhà Trần, bên cạnh đạo Phật, Đạo giáo cũng phát triển mạnh mẽ, và nhiều người thuộc giới quý tộc và hoàng thân là những đạo sĩ, tín đồ của đạo giáo. Trong số họ, có Trần Hưng Đạo. Sau khi chiến thắng giặc Nguyên và Mông, và được phong vương, ông quay trở về sống tại Kiếp Bạc. Ông tận hưởng niềm vui trong cảnh đẹp của thiên nhiên và chấp nhận cuộc sống giản dị. Ngoài ra, ông còn đam mê làm thuốc để chữa bệnh và cứu người.
Tương truyền rằng, Phạm Nhan rất giỏi tà thuật nên khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta, hắn dùng âm binh, hô mây gọi gió khiến nhiều lần quân ta thất thủ. Hưng Đạo Vương phải lập đồ trận cửu cung bát quái kết hợp với thanh thần kiếm để phá. Sau này, Hưng Đạo Vương sai Yết Kiêu đi đục thuyền bắt Phạm Nhan, nhưng cứ bắt được thì lại biến mất. Hưng Đạo Vương dặn: “Phải trữ sẵn chỉ ngũ sắc, chờ khi bắt được thì dùng chỉ quấn vào mình nó”. Quả nhiên, Yết Kiêu đi và dùng chỉ ngũ sắc bắt được Phạm Nhan. Khi ra pháp trường, cứ chém đầu này thì Phạm Nhan lại mọc ra đầu khác, Hưng Đạo Vương phải mang thần kiếm ra mới giết được.
IV. Tượng Trần Hưng Đạo ở 63 tỉnh thành
Tại nhiều tỉnh thành Việt Nam, các tượng đài Đức Thánh Trần được xây dựng uy nghiêm, có lư hương được đặt phía trước,để người dân bày tỏ lòng thành kính và tôn trọng đối với vị Quốc Công Tiết Chế, người đã có công lớn đối với dân tộc.
1. Ninh Bình (Nam Định cũ)

2. Hải Phòng (Hải Dương cũ)
Ngày 20-8 năm Quý Dậu, tức 5 – 10 – 1993, Đại tướng Võ Nguyên Giáp , đại diện Đảng và Nhà nước đặt phiến đá đầu tiên tại nới xây dựng tượng đài Đại Vương đã khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta quyết định xây dựng tượng đài của vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn tại đây, trên núi An Phụ, gần nơi an nghỉ của An Sinh Vương Trần Liễu, một địa điểm không xã Vạn Kiếp và sông Bạch Đằng – một vị trí tuyệt vời”.

3. Phan Thiết
Tượng Đức Thánh Trần ở Phan Thiết được xây dựng từ khi nào không ai còn nhớ rõ và có nhiều điều “bí ẩn” đến nay vẫn chưa có lời giải thích thỏa đáng.
Vì sao Đức Thánh Trần chỉ tay xuống sông Cà Ty, đây là câu hỏi của nhiều thế hệ ở Phan Thiết. Một người dân kể: Ban đầu, tay của tướng Trần chỉ sang phía làng Đức Thắng, nhưng các bô lão ở đó phản ứng nên mới thiết kế lại để tay chỉ xuống sông Cà Ty. Điểm đặc biệt tượng Đức Thánh ở Phan Thiết là 2 người đứng đằng sau, một người là Yết Kiêu, còn một người là Dã Tượng.
Nhà văn, nhạc sĩ Đỗ Quang Vinh (nguyên Trưởng Phòng Quản lý văn hóa, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch) khi trả lời PV không lý giải được vì sao trước tượng Đức Thánh Trần ở Phan Thiết lại không có lư nhang.
Tượng Đức Thánh Trần ở Phan Thiết, đằng sau là Dã Tượng và Yết Kiêu
4. Hải Phòng
Vùng cửa sông Bạch Đằng ở Hải Phòng gắn liền với ba trận thủy chiến biểu tượng cho tinh thần chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam ta. Lần thứ nhất là Ngô Quyền đánh bại 2 vạn thủy quân Nam Hán năm 938, lần hai là Lê Đại Hành đánh tan giặc Tống năm 981, lần 3 là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng vua tôi nhà Trần xua tan giặc Nguyên Mông năm 1288.
Cả 3 vị anh hùng dân tộc đứng trên bệ đá, cùng dõi ánh nhìn ra phía xa là những bãi cọc mô phỏng chiến thắng trên sông Bạch Đằng thuở trước

5. Thành phố Hồ Chí Minh
Do cơ sở hạ tầng đã xuống cấp, phần tượng của Trần Quốc Tuấn bị rêu bụi bám nên công viên Mê Linh đã tu sửa lại. Ngày 17.2.2019, trên mạng xã hội xuất hiện những hình ảnh về chiếc xe cẩu đưa chiếc lư hương lớn vốn lâu nay để dưới chân tượng đài Trần Hưng Đạo chuyển đi nơi khác. Sự việc này gây nên nhiều tranh cãi, không ít người dân phản ứng vì lâu nay họ vẫn đến thắp nhang ở dưới chân tượng đài để tưởng nhớ công ơn của Hưng Đạo Vương.
Sau hơn 3 năm kể từ ngày di dời về Đền thờ Trần Hưng Đạo trên đường Võ Thị Sáu, lư hương đã được đưa về lại trước tượng đài Đức thánh Trần Hưng Đạo ở Công viên Mê Linh.

6. Gia Lai (Quy Nhơn, Bình Định cũ)
Trong niềm tin của người dân nơi đây, đặc biệt là ở làng chài Hải Minh, tượng đài Trần Hưng Đạo rất linh thiêng. Họ không gọi tên tuổi cụ thể của người anh hùng dân tộc này mà chỉ tôn kính gọi là tượng Đức Ông hay tượng Đức Thánh Trần. Bao nhiêu cơn bão mạnh từ biển Đông ập vào nhưng Quy Nhơn ít bị thiệt hại hơn những nơi khác là nhờ có Đức Thánh Trần che chở, đẩy gió đi hướng khác. Ngư dân ra khơi đánh bắt thường hướng lên tượng Đức Thánh Trần khấn vái, cầu xin được bảo hộ.

7. Trường Sa
Việc khánh thành tượng đài Đức Thánh Trần trên đảo Song Tử Tây không chỉ mang lại niềm vui và tự hào cho nhân dân tỉnh Nam Định mà còn cho toàn bộ người dân cả nước. Đây là một món quà đặc biệt mang trong mình ý nghĩa về văn hoá, tâm linh và chính trị, đồng thời góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với biển và đảo.

8. Hưng Yên (Thái Bình cũ)
Dự án xây dựng tượng Đức Thánh Trần tại bến sông Hóa, thuộc Khu di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Đình – Đền – Bến Tượng A Sào, đã bắt đầu triển khai từ tháng 2 năm 2019. Tổng mức đầu tư cho dự án là 11 tỷ đồng, toàn bộ nguồn vốn này đều được huy động thông qua quá trình xã hội hóa. Tượng Đức Thánh Trần được biểu diễn trong bức tranh võ tướng, cầm đốc kiếm bằng một tay và chỉ về phía dòng sông bằng tay còn lại. Điều này tái hiện lại câu chuyện lịch sử đầy tính hùng tráng cùng lời thề bất hủ của Đức Thánh Trần: “Nếu trận này không thắng giặc Thát, ta thề không trở lại bến sông này!”.

9. Tp. HCM (Vũng Tàu cũ)
Ban đầu, tượng được đặt tên là tượng Trần Hưng Đạo được xây dựng bởi thủy quân lục chiến chế độ cũ. Tuy nhiên, sau thời kỳ giải phóng, UBND TP.Vũng Tàu đã tiến hành trùng tu và chính thức đổi tên thành Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Hành động này nhằm đồng nhất với chức danh và công lao của ông, đồng thời thể hiện lòng biết ơn của thế hệ sau về những đóng góp của ông trong lịch sử.

10. Tượng Đức Thánh ở các nơi khác


